Ngôi trường trong ký ức:

Ngôi trường của Tata

Khi nghe tôi nói tiếng Pháp trôi chảy, rất nhiều người phỏng đoán “Chắc học từ nhỏ, trong một trường nào đó hiện đại lắm!”. Ngôi trường đầu tiên dạy tôi những câu chữ nước ngoài thật ra chẳng mấy hiện đại, không hề đắt tiền mà hiệu quả lại bất ngờ. Bởi, ở đó tôi được yêu thương.

Những năm tám mươi, các trường dạy ngoại ngữ hầu như đều đóng cửa. Người lớn bận mưu sinh, trẻ con chạy rong khắp xóm. Không ai nghĩ đến việc ngoại ngữ sẽ cần vì đất nước hầu như đóng cửa. Thế mà được sáu tuổi, mẹ tôi dắt tôi đến nhà một bà thầy, con nít đông thật đông. Mẹ nói “Từ nay con sẽ học tiếng Pháp với Tata!”. Tôi nhìn Tata, bà chừng trên năm mươi tuổi, mặt phúc hậu nhưng nghiêm, tóc cắt ngắn, uốn dợn khá Tây. Bà cười xoa đầu đón mừng tôi. Suốt mấy năm trời theo học ở đây, đám học trò nhỏ chúng tôi thân thương gọi bà là Tata mà chẳng ai thắc mắc tại sao và “tata” nghĩa là gì. Sau này lớn lên nhớ lại, tôi mới biết “tata” tức là dì, là cô trong tiếng Pháp. Và quả chúng tôi đã luôn xem Tata như một người thân trong gia đình.

Nguyên cả ngôi nhà của Tata nằm trong một con hẻm trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm được trưng dụng làm “trường”. Học trò ngồi khắp nơi từ chiếc bàn dài trong phòng khách đến bàn ăn trong bếp, bàn máy may trong góc kẹt, bàn thợ mộc trong nhà kho… Tata dạy tiếng Anh và tiếng Pháp cho con nít từ sáng sớm đến chiều tối. Nhà tata luôn đông vui, con cháu của bà cũng tham gia vào việc dạy và bày trò chơi với lũ trẻ. Cho đến giờ tôi vẫn luôn ngạc nhiên về tầm vốc “chuyên nghiệp” của Tata. Dụng cụ dạy học của bà thật đơn giãn nhưng được chăm chút bằng tất cả tấm lòng. Bà khắc hình cái nhà, bàn, ghế, tập, sách, chó, mèo… lên những cục gôm rồi thấm mực đỏ in lên tập. Cuốn sách được in sao cho vừa khéo nằm trên cái bàn. Với câu hỏi “Cuốn sách ở đâu?”, nhìn hình tôi sẽ trả lời “Cuốn sách nằm trên bàn”. Đó là bài học về vị trí.

Bà luôn soạn bài cho từng trò nhỏ trước mỗi buổi học cho dù “giáo trình” của mỗi đứa khác nhau. Tôi vẫn luôn thắc mắc bà lấy đâu ra thời giờ để soạn bài cho chừng năm chục đứa? Rồi bà vẽ hình đàn ông, đàn bà, trẻ em mặc trang phục đặc trưng cho từng nghề. Bà cắt hình ra dán lên miếng vải nhung để dạy chúng tôi về nghề nghiệp. Bài học về màu sắc cũng rất linh động, chúng tôi được cắt giấy thủ công hình các con vật, được tô lem nhem và học pha màu thú vị. Ngày nay phụ huynh đề cao những trường ngoại ngữ của nước ngoài vì phương pháp học nhẹ nhàng, vừa học vừa chơi. Vậy mà vào thời đó Tata đã biết rằng chỉ có cách học sao cho trẻ thấy thú vị thì mới giúp trẻ ham học. Chừng mỗi tháng một lần bà tổ chức thi đố vui “toàn trường”. Đứa nào lanh lợi trả lời giỏi sẽ được quà. Đứa nào nhút nhát nhưng chăm chỉ cũng được “giải an ủi” vài viên kẹo. Mỗi khi phải giao “trường” lại cho con cháu để đi công chuyện vài tiếng đồng hồ, Tata quay về với lủ khủ mấy dây kẹo bánh xanh đỏ treo lúc lắc trên chiếc xe đạp mini. Đám trò nhỏ nhao nhao chạy ra đón mừng rỡ “Tata về! Tata về!”. Tata chực quăng chiếc xe đạp để kịp mở rộng vòng tay ôm tụi nhóc vào lòng. Mắt bà sáng bừng lên “Thôi mai mốt Tata không đi nữa! Ở nhà tụi con ngoan không? Có quà, có quà!”

Thời đó ai học ngoại ngữ đều sắp “đi”. Đứa nào sắp xuất cảnh sang Mỹ và Canada thì học tiếng Anh. Đứa nào đi Pháp, Bỉ, Thụy Sỹ thì học tiếng Pháp. Riêng tôi tự biết mình chẳng có thân nhân nào “bảo lãnh”, cũng không có dự định “vượt biên”. Gia đình tôi muốn tôi học tiếng Pháp trước, sau đó chuyển qua tiếng Anh sẽ dễ dàng hơn. Nhưng vì ngồi chung một cái bàn dài nên đứa nào học tiếng Pháp cũng nghe thằng học tiếng Anh đọc ra rả. Kết quả là chúng tôi đều được đào tạo “song ngữ” dù chỉ đóng tiền học một thứ tiếng. “This is a table” thằng “Cu Quẹo” (tôi không nhớ tên thật là gì, chỉ biết nick name của nó) la to. Kế bên, tôi đọc “C’est une table”. Hai đứa khoái chí “Ủa, viết giống nhau quá mày hén!”. Mấy đứa học tiếng Pháp chê tiếng Anh dễ ợt, đám học tiếng Anh ghẹo lại tụi tiếng Pháp đọc cái miệng điệu quá xá!

Sau này tôi không còn theo học ở nhà Tata nữa, tôi không nhớ lý do. Có lần tôi đạp xe quay lại thăm Tata khi đang học cấp hai, bà nhận ngay ra tôi. Hỏi thăm đứa bạn nào cũng hay đều “đi” hết. Tata lấy hình thằng Cu Quẹo đang ở Mỹ, con Diệp lùn ở Canada, anh Minh mụn ở Pháp gởi về. Nhà Tata đã vắng bớt học trò, Tata nói các con cháu mình đi làm bận rộn quá, không ai phụ làm dụng cụ học tập, dọn dẹp bàn ghế nữa.

Bẵng đi một thời gian dài mười mấy năm, tôi gặp lại con dâu của Tata mà ngày bé tôi gọi đơn giản là “Madame”. Madame đang dạy ở IDECAF và nhớ ra tôi ngay, tôi hỏi thăm Tata, được biết bà đã yếu nhiều, trường học đóng cửa. Một lần Tết đến, tôi ghé thăm, Tata đã không còn nhận ra tôi nữa, nhưng có hề chi, Tata vẫn mừng rỡ kéo tôi ra góc mai chụp hình chung. Nhìn mái tóc bạc trắng, dáng đi lụm cụm của Tata tôi mới thấm thía “thời gian như bóng câu qua cửa sổ”. Suốt ngày con cháu đi làm, nhà vắng, cửa đóng im ỉm. “Tata buồn lắm, nhớ tụi con quá…”

Chẳng hiểu sao tôi không dám nói với Tata, dù tôi vốn không nhút nhát, rằng những ngôi trường khác, qui mô và hiện đại như IDECAF hay British Council vẫn không làm tôi thấy thoải mái và yêu ngoại ngữ như thời thơ ấu trong “ngôi trường Tata”. Nơi đó, lũ trò nhỏ chúng tôi đã ra rã “This is a table - C’est une table” trong tình yêu thương xiết bao.

Dương Thụy

 


  next page >